Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Chùa Thiên Mụ - Du lịch tâm linh trong các lời nguyền

Có thể bạn chưa biết, Huế là nơi bị ảnh hưởng sâu sắc nhất  tư tưởng Phật Giáo ở Việt Nam. Nơi đây có nhiều nét văn hóa truyền thống lâu đời vẫn còn được giữ gìn.
Chính vì vậy, hãy chuẩn bị tinh thần thật tốt để đọc những câu chuyện truyền thuyết sau, nó gắn liền với các lời nguyền đã được truyền miệng từ đời này sang đời khác tại mảnh đất Huế. Một trong những câu chuyện mình  muốn giới thiệu với các bạn là truyền thuyết  về Chùa Thiên Mụ hay còn có tên là Chúa Linh Mụ. 
Chùa Thiên Mụ hay còn gọi là Chùa Linh Mụ

Trước hết xin điểm qua tọa lạc của ngôi chùa đầy huyền bí này, nó nằm trên một ngọn đồi cao Hà Khuê đường Nguyễn Phúc Nguyên, làng An Ninh Thượng, Phường Kim Long bên Bờ Bắc cách thành phố Huế 5km.
Các bạn có thể đi từ Cầu Tràng Tiền (hoặc Cầu Phú Xuân) rẻ sang trái đi đến cuối đường Lê Duẫn, đi thằng tiếp đến đường Kim Long và đi  hết đường Kim Long là đến đường Nguyễn Phúc Nguyên, các bạn nhớ giữ xe (nếu  bạn có dùng phương tiện đi lại) tại chỗ giữ xe chùa Thiên Mụ trước khi vào thăm chùa nhé.
Đường dẫn đến Chùa Thiên Mụ, Huế

Truyền thuyết Chùa Thiên Mụ bất đầu từ lúc ở ngọn đồi Hà Khê này có người trông thấy một bà già mặc áo đỏ quần xanh ngồi chơi trên đồi và nói: “Rồi đây sẽ có chân Cháu đến dựng lại chùa ở nơi này để tụ linh khí mà làm bền cho long mạch”. Nói xong, bà ấy biến mất. Từ đó, người dân đặt cho chùa cái tên Thiên Mụ Sơn. Và vào một ngày đẹp trời năm Tân Sửu (1601) Chúa Nguyễn Hoàng du ngoạn phong cảnh thiên nhiên, khi đến đây thì nghe được câu chuyện về bà lão, Chúa thấy phong cảnh nơi đây lại tuyệt đẹp, địa thế rất tốt nên cho dựng lại chùa, viết biển đề “Thiên Mụ Tự” (đến đời vua Tự Đức đổi thành tên Linh Mụ Tự). Đây là truyền thuyết về tên chùa là Linh Mụ hay Thiên Mụ.

Ngoài ra, Chùa còn mang trên mình một lời nguyền “tình duyên oan trái”. Đó là hễ  “Trai gái yêu nhau cùng lên chùa Thiên Mụ, trở về thì sẽ chia tay. Người đến đây độc thân nếu thành tâm cầu nguyện sẽ sớm gặp được chân tình”. 



Lời nguyền bất đầu trong thời kỳ phong kiến còn rất hưng thịnh ở Huế với các tư tưởng lễ giáo ăn sâu trong tiềm thức đã gò bó cuộc sống con người ở khoảng thời gian đó. Đặc biệt là quan hệ giữa trai và gái  như “nam nữ thụ thụ bất thân”, “môn đăng hộ đối”, “trai năm thê bảy thím, gái chính chuyên một chồng”, “xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”  hay “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” “trai tài gái sắc”… Biến cố chuyện tình duyên trong lời nguyền bất đầu khi một đôi trai gái yêu nhau sâu đậm trong thời gian Chúa Nguyễn Hoàng cai trị. Nhưng trớ trêu thay, gia cảnh của chàng trai quá chênh lệch so với cô gái. Chàng trai sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó, lại mồ côi từ nhỏ nên cuộc sống của anh rất cơ cực, đói rách còn cô gái phải nói là “sinh ra đã là tiểu thư”, có kẻ hầu người hạ lại rất xinh đẹp, cầm kỳ thi họa. Rõ ràng là hoàn toàn không “môn đăng hộ đối” nhưng họ bất chấp đến với nhau vì tình yêu chân chính, cái mà thời đó chỉ có thể đem đo bằng vật chất và gia cảnh.
Chính vì thế, chuyện tình của đôi nam nữ chỉ diễn ra trong lén lút, không ai hay biết. Và chuyện gì đến cũng sẽ đến, sau nhiều lần gặp chàng trai trong âm thầm cũng đã bị gia đình cô gái phát hiện ra. Chuyện tình đẹp trở thành bi kịch kể từ đây, khi bất giác  gia đình đã kịch liệt ngăn cấm cô gái không được giao du với chàng trai nữa và kiếm ngay một mối tương xứng là một nhà quan lại giàu có tiếng định sẵn ngày kết hôn với cô gái để sớm kết thúc chuyện này.
Họ yêu nhau và tự nguyện đến với nhau nhưng bị gia đình và mọi người ngăn cấm vì không theo tư tưởng phong kiến thời đó. Nếu cứ cố tiếp tục qua lại trong lén lút như vậy cũng sẽ bị đàm tiếu, kỳ thị. Quá đau khổ họ quyết định “sống không ở được với nhau thì chết sẽ mãi mãi bên nhau”. Bến thuyền Mụ (trước chùa Thiên Mụ) là nơi đã  chứng kiến lời thề son sắc mãi ở bên nhau của đôi trai gái trước khi gieo mình xuống dòng sông sâu.
Nhưng trớ trêu thay, số phận không cho họ toại nguyện chàng trai chết dưới dòng sông Hương còn cô gái lại được người dân ở ven sông cứu sống. Linh hồn chàng trai đợi cô gái từ ngày này qua ngày khác vẫn không thấy. Sau đó mới hay biết cô gái khi được cứu sống bị gia đình nhốt lại và ép gả. Lúc đầu cô gái còn kháng cự kịch liệt sau cũng an phận theo ý gia đình về làm dâu nơi vị quan giàu có, cuộc sống cô gái rất hạnh phúc, hào môn thế gia. Oan hồn của chàng trai uất hận cho thân phận trắc trở đã bay đến “nhập” vào Chùa Thiên Mụ và nguyền “Trai gái yêu nhau cùng lên chùa Thiên Mụ, trở về thì sẽ chia tay”. Nhưng chàng trai bản chất vẫn là một người lương thiện, chỉ vì cô gái không giữ lời hứa của mình nên oán trách số phận mà đặt ra lời nguyền như vậy nên chàng trai đã thêm một lời nguyền “Người đến đây độc thân nếu thành tâm cầu nguyện sẽ sớm gặp được chân tình” ở phía sau câu oán.
Có thể nói lời nguyền này xuất phát từ “tình yêu không có lỗi, lỗi ở gia cảnh”, họ yêu nhau nhưng không đúng thời điểm. Lời nguyền “tình duyên oan trái” đó được những người ở nơi đây truyền từ đời này sang đời khác, có người tin nhưng cũng có người không tin. Hằng năm, ở Chùa Thiên Mụ đón tiếp rất nhiều vị khách ở phương xa đến, có rất nhiều cặp đôi đến để thử thách tình yêu của mình, có những cặp đã sống rất hạnh phúc  sau chuyến đi nhưng cũng có những cặp đôi cãi vã, chia tay. Có phải lời nguyền linh ứng hay vì tình yêu của họ không thật sự chân thành và thấu hiểu lẫn nhau để mãi bên nhau??
Chùa Thiên Mụ không chỉ hấp dẫn du khách đến đây vì tin đồn lời nguyền mà nơi đây còn có phong cảnh cực kỳ đẹp nên chùa Thiên Mụ còn được nhắc đến là ngôi chùa đẹp nhất thời bấy giờ. Bạn sẽ phải hối tiếc nếu du lịch ở Huế mà không ghé đến đây vì nó “miễn phí vé” hoàn toàn để bạn tham quan. Cùng điểm sơ qua bên trong khu Chùa Thiên Mụ.
Chùa Thiên Mụ bằng flycam

Sau khi giữ xe xong, bạn đi thẳng lên dốc cao rẽ phải băng qua con đường nhỏ gập ghền đá cuối con đường có lối đi vào chùa bên tay trái. Khung cảnh đầu tiên của ngôi chùa trong mắt bạn là con đường lát gạch đã cũ và vườn hoa. Đây là khu vực sau lưng chùa với điện Địa Tạng được xây bằng một số vật liệu gỗ nặng của đình Hương Nguyện còn xót lại  sau trận bão năm Thìn (1904). Điện này dựng lại trên nền gạch cũ rất rộng của điện Di Lặc thờ Quan Công đã được dở bỏ.

Điện Địa Tạng, Chùa Thiên Mụ

Cùng dạo bước ngắm nhìn khu vườn hoa bình dị trên con đường thẳng lát gạch cũ của điện Di Lạc còn xót lại đưa chúng ta đến điện Đại Hùng.
Điện Đại Hùng, Chùa Thiên Mụ

Đây là chính điện trong chùa được khôi phục năm 1959 có kiến trúc ba gian của ngôi nhà Việt xưa với  nhiều cột được xây bằng bê tông có lớp sơn giả gỗ. Trong điện thờ 2 vị phật, phía trước khu gian gữa là  nơi thờ Phật Di Lặc. Phật có tai to để nghe những chuyện khổ của thiên hạ, bụng to để bao dung những chuyện khổ dung trong thiên hạ, miệng rộng hay cười những chuyện khó cười trong thiên hạ. Ở bức hoành phi trên cao có 4 chữ “ Linh Thửu Cao Phong” do chúa Nguyễn Phúc Chu ngự đề năm 1714, ngoài ra trong điện còn treo một cái khánh đồng khá lớn chạm hình nhật nguyệt, tinh tú và khắc những dòng chữ cho biết khánh này do một vị quan người Quảng Trị là Trần Đình Ân thuê đúc năm 1677 để cúng cho chùa. Người ta so sánh nơi chùa tọa lạc giống như đồi Linh Thửu ở đất Ấn Độ, nơi đất Phật đắc đạo.
Khung cảnh bên trong điện Đại Hùng, Chùa Thiên Mụ

Qua khỏi nơi thờ tượng Di Lạc, chúng ta vào bên trong điện là nơi thờ Tam Thế Phật ở chính giữa, hai bên là Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền. Đi theo lối bên hông điện ra phía sau vườn là nhà trưng bày những hỉnh ảnh và chiếc xe của hòa thượng Thích Quảng Đức, người tự thiêu vào năm 1963 để chống chế độ  đàn áp Phật giáo.
Chiếc xe của hòa thượng Thích Quảng Đức đặt tại điện Đại Hùng, Chùa Thiên Mụ

Rời khỏi điện Đại Hùng đến khu vực bên phải điện là khu vực của đình Hương Nguyên được xây vào thời vua Thiệu Trị (1841-1847). Đây là nguyên mẫu một ngôi nhà tứ giác độc đáo của 150 năm trước. Đứng trong nhà nhìn lên, chúng ta thấy hình bát quái được cấu trúc khéo léo ở nóc.
Đình Hương Nguyên, Chùa Thiên Mụ

Gần với Đình Hương nguyên là Lầu Lục giác, Tứ giác phía trước. Với một nhà để bia, một nhà để quả chuông đúc thời Chúa Nguyễn Phúc Chu.
Lầu Lục giác, Tứ giác phía trước ở Chùa Thiên Mụ

Và nơi mà các bạn sẽ ấn tượng nhất là Tháp Phước Duyên còn được gọi là Phước Duyên Bửu Tháp, ngôi tháp cao to phía trước Lầu Lục giác, Tứ giác.
Tháp Phước Duyên còn gọi là Phước Duyên Bửu Tháp ở Chùa Thiên Mụ

Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21m) dưới lớn trên nhỏ. Số 7 là con số linh của đạo phật. Hệ thống bậc cấp trước chùa cũng tính theo số 7. Trong tháp có hệ thống bậc thang xây cuốn từ dưới lên trên, chỉ trừ giữa tầng thứ 6 và tầng thứ 7 là phải dùng cái thang di động bằng gỗ và cái cửa với chìa khoá đặc biệt, vì ở tầng trên cùng này xưa kia có thờ tượng Phật bằng vàng.

  1. Tầng một thờ đức Phật Quá Khứ Tỳ Bà Thi (Vipassi )
  2. Tầng hai thờ đức Phật Thi Khí (Sikkhi )
  3. Tầng ba thờ đức Phật Tỳ Xá Phù (Vessabhu)
  4. Tầng bốn thờ đức Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha)
  5. Tầng năm thờ đức Phật Câu Na Hàm (Konagamana)
  6. Tầng sáu thờ đức Phật Ca Diếp (Kassapa)
  7. Tầng bảy thờ đức Thích Ca Mâu Ni, Tây Phương Cực Lạc Pháp Vương. Còn có tôn giả Ca Diếp và A Nan thờ bên cạnh
Ngoài ra, chùa còn có cổng chính của chùa có tên là cổng Tam Quan nằm gần Tháp Phước Duyên với các kiến trúc điêu khắc sắc sảo của người Việt cổ.
Cổng Tam Quan, Chùa Thiên Mụ

Bên cạnh các công trình đắc sắc của chùa, ta còn có thể ngắm quang cảnh đẹp lung linh của dòng sông Hương yên bình từ trên các bật cao của Tháp Phước Duyên. Và mình khuyên bạn nếu đến đây, các bạn nên chuẩn bị một bộ áo dài kèm theo chiếc nón lá để có những bức ảnh kỷ niệm đẹp trong khung cảnh thiên nhiên yên bình mặn mà xứ Huế này.
Khung cảnh nhìn từ trên cao từ Tháp Phước Duyên, Chùa Thiên Mụ

Các bạn còn có thể nhìn ngắm quang cảnh xung quanh chùa Thiên Mụ bằng cách du thuyền trên sông Hương đến đây.



Theo thời gian, Chùa vẫn được bảo tồn trước sức tàn phá của thời gian, trải qua biết bao trận bão càng quét của thiên nhiên miền Trung để mang âm thanh Chuông chùa vang vọng mãi nơi đây.
Gió đưa cành trúc la đà  
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương
                                                                                                                 
  Người viết
-  Trần Thị Ngọc Mỹ-




Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016

Cầu Trường Tiền, Huế. Điểm đến hấp dẫn

Cầu Trường Tiền hay còn gọi là cầu Tràng Tiền nối đường Lê Lợi bên Bờ Nam với đường Trần Hưng Đạo bên Bờ Bắc, thành phố Huế. Cầu được Pháp xây dựng năm Thành Thái thứ 9 (1897) và được xem như một trong những biểu tượng du lịch của thành phố Huế ngày nay.

Cầu trường tiền huế

Cầu Trường Tiền hay còn gọi là Cầu Tràng Tiền

Cầu trường tiền huế
Vẻ đẹp huyền bí Cầu Trường Tiền về đêm

Chúng ta cùng ngắm vẻ đẹp của Cầu Tràng Tiền qua ống kính trong video sau nhé!

Khám phá Việt Nam - Trường Tiền - cây cầu lịch sử xứ Huế  (Nguồn youtube)

Ngày nay, Cầu Tràng Tiền đóng vai trò lưu thông quan trọng với một đầu  nối bờ Bắc Huế, khu vực có chợ truyền thống Đông Ba, các di tích lịch sử lớn như Đại NộiChùa Thiên Mụ… Nối với  đầu cầu phía nam là con đường du lịch Lê Lợi với các hoạt động về đêm vô cùng nhộn nhịp, trường Quốc Học Huế, trường Hai Bà Trưng, Đại Học sư phạm HuếCông viên sư phạm tuyệt đẹp dưới chân cầu... Từ đó mới thấy được Cầu Trường Tiền có ý nghĩa lớn lao thế nào đối với người  Huế.
Cầu trường tiền huế

Có lẽ hấp dẫn nhất đối với các bạn không chỉ ngắm cầu Trường Tiền về đêm mà ở dưới chân cầu còn có Phố Đi Bộ. Hòa mình vào không gian thoáng đãng mát mẻ, xung quanh là các dịch vụ nhà hàng nổi trên sông, đi thuyền trên sông hương, các khu đồ lưu niệm xứ Huế, các quán café với không gian vô cùng sang trọng mà bạn nên thử đặt chân đến một lần

Cầu trường tiền huế

Nơi bán hàng lưu niệm trên Phố Đi Bộ

Cầu trường tiền huế
Nhà hàng nỗi trên sông Hương ở Phố Đi Bộ


Cùng men theo con đường trên cầu đến bờ Nam Huế, đó là đoạn đường Lê Lợi – con đường phát triển du lịch nhất ở thành phố Huế. Sau đó, rẽ trái đi ngược về khu trường Đại học sư phạm Huế ta mới thấy được sự phát triển du lịch ở nơi đây. Hãy tìm cho mình một điểm dừng chân nghỉ ngơi nào. 
Các bạn thích không gian Châu Âu sang trọng, yên tĩnh mà giá cả phải chăng, thử một lần gặp gỡ và trò chuyện với khách du lịch nước ngoài, hãy đến với DMZ bar
Cầu trường tiền huế
DMZ bar với các combo giá khủng 35.000VNĐ

Bạn thích sự náo nhiệt, hòa mình vào tiếng nhạc sôi động ở không gian rộng rãi thoát mát ngoài trời thì hãy đến với Century Pub & Beer Garden.
Cầu trường tiền huế
Không gian ngoài trời rộng rãi của Century Pub & Beer Garden


Hay bạn thích không gian riêng tư yên tĩnh để dừng chân, các bạn có thể nghĩ chân tại các ghế đá trong công viên tuyệt đẹp trước trường đại học Sư Phạm Huế. Khi đến đây, bạn còn có thể hòa vào tiếng nhạc ghita ngoài trời của nhóm các bạn sinh viên hay các hoạt động sinh hoạt đoàn của các bạn trẻ.

Ngoài ra, trên đoạn đường Lê lợi còn có bán đồ ăn vặt ở lề đường trước công viên, bạn cũng có thể dừng chân ở nơi đây để thưởng thức các món ăn vặt thật ngon do chính bàn tay người Huế chế biến
Cầu trường tiền huế
Một quán ăn vặt trước công viên 

Cầu Trường Tiền theo thời gian vẫn chất chứa một vẻ đẹp mặn mà rất đặc trưng của xứ Huế. Nếu bạn đặt chân đến Huế thì không nên bỏ lỡ một nơi tuyệt đẹp như thế này nhé!
Người viết
-Trần Thị Ngọc Mỹ-


Đại Nội Huế, Kinh Thành cuối cùng trong lịch sử

Bạn biết đấy, Huế là nơi mà triều đình nhà Nguyễn đóng đô đã để lại một loạt các công trình lịch sử trên mãnh đất mộng mơ này.
Đáng chú ý nhất là Đại Nội Huế hay Hoàng Thành hoặc Tử Cấm Thành nằm bên trong Kinh Thành, có chức năng bảo vệ các cung điện quan trọng nhất của triều đình, các miếu thờ tổ tiên nhà Nguyễn và bảo vệ Tử Cấm Thành - nơi dành riêng cho vua và hoàng gia

Đường đến Đại Nội Huế (Nguồn: Google Map)

Đại Nội nằm trên đường Hai Ba Mươi Tháng Tám bên Bờ Bắc thành phố Huế. Bạn có thể đi từ Cầu Tràng Tiền hoặc cầu Phú Xuân đến đường Lê Duẩn và rẻ sang đường Cửa Ngân sau đó rẻ trái đến đường Hai Ba Mươi Tháng Tám, vậy là bạn đã đến được với Kinh Thành Huế.

Điểm đáng chú ý mà bạn không thể bỏ qua, đó là phía trước Đại Nội có khu trưng bày  9 khẩu súng thần công, Ngày 31/01/1803, Gia Long hạ lệnh thu hết tất cả đồ dùng bằng đồng của triều đại Tây Sơn đúc thành 9 khẩu súng. Ðến cuối tháng Giêng năm 1804 thì công việc đúc hoàn thành. Người ta lấy tên bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Ðông và ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ để đặt tên cho 9 khẩu súng.Tất cả chín khẩu đều được phong "Thần Oai vô địch thượng tướng quân". Mỗi khẩu dài 5.1m, nặng trên 10 tấn

9 Khẩu súng Thần trước Đại Nội ( Ảnh Internet)

Để đến với Đại Nội bạn phải đặt chân đến Cửa Ngọ Môn trước khi khám phá sâu vào bên trong

Khung cảnh phía trước Cửa Ngọ Môn của Đại Nội

Ngọ Môn là cổng chính phía nam của Hoàng thành, được xây dựng năm Minh Mạng 14 (1833), trên đài có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn.
Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ - hướng nam, hướng mà Dịch học qui định dành cho bậc vua Chúa  Ngọ Môn gần hai phần chính: đài - cổng và lầu Ngũ Phụng
Và chúng ta cùng khám phá bên trong Đại Nội nhé!
Đầu tiên, các bạn sẽ đến Điện Thái Hoà  Sân Đại Triều Nghi

Điện Thái Hòa (Hoàng Thành Huế)

Khi đi sâu vào bên trong các bạn sẽ vào cùng thích thú với không gian hoàng cung nghiêm trang, cổ xưa. Hòa vào nơi vua ngự triều với các kiến trúc điêu khắc cung đình  đầy sắc sảo ở khắp mọi nơi.

Ngai vàng trong điện Thái Hòa

Phía sau Điện Thái Hòa, là nơi đặt mô hình thành phố Huế thu gọn vô cùng độc đáo, chúng ta như người khổng lồ đang nhìn ngắm toàn bộ mọi ngõ ngách Huế. Một mô hình đầy kỳ công mô tả địa bàn Huế một cách chi tiết và đầy chính xác nhất mà mình từng thấy. Bạn có muốn thành phố Huế thu gọn trong tầm mắt không? Hãy đến đây và cảm nhận nhé.
Rời khỏi Điện Thái Hòa rẽ phải là nơi bán đồ lưu niệm Hoàng Cung và nơi trưng bày các đồ dùng cũng như vật dụng của hoàng tộc ngày xưa

“Chiếc “Long bào mây lam” của Vua Đồng Khánh (1864-1889), vị vua thứ 9 của triều Nguyễn, được cơ sở thêu phục chế cung đình của nghệ sĩ ưu tú Vũ Văn”

Đối diện với khu trưng bày chắc hẵn là nơi mà mọi người sẽ vô cùng thích thú và muốn đặt chân ghé đến. Đó là khu thuê vật dụng của hoàng tộc. Cùng cảm nhận một ngày mình được làm vua, công chúa, hoàng hậu, thái tử…  kỷ niệm với người thân và bạn bè trong các bức ảnh tuyệt đẹp nhé.

Ngoài ra, bạn có thể cùng cầu nguyện may mắn ở chum thả tiền may mắn đặt giữ khu trưng bày và khu thuê áo hoàng tộc hay dạo bước cùng người thân trong khung cảnh mát mẻ, êm dịu của thiên nhiên xung quanh đại nội từ khi bước chân đến cả trong quá trình thăm quan lẫn trong khung cảnh ra về…

 Một khung cảnh thiên nhiên trên đường khám phá


Phía sau cùng của Đại Nội là một khu được tu sửa và xây mới nhưng vẫn giữ các nét điêu khắc cổ xưa. 

Khu trùng tu Đại Nội Huế

Còn rất nhiều điều thú vị khác nữa, các bạn hãy đến Đại Nội cùng nhau tìm hiểu về cuộc sống Vua chúa ngày xưa nhé!
Chú ý,  Khu vệ sinh dành cho khách du lịch nằm ở phía sau khu trưng bày áo và vật dụng hoàng gia. Bên cạnh khu trưng bày có lối đi ra khu vệ sinh.
Người viết

-Trần Thị Ngọc Mỹ-



Thứ Hai, 25 tháng 7, 2016

THUYẾT MINH THAM KHẢO VỀ THỪA THIÊN HUẾ

Bãi Biển Lăng Cô
Dưới chân đèo về phía Bắc là Lăng Cô với những làng chài hiền hoà ẩn mình dưới các tán dừa xanh. “Lăng Cô” ngày xưa vốn có tên gọi là “Làng Cò” bởi vì có rất nhiều cò sinh sống tại đây. “Làng cò” được đọc trại thành “Lăng Cô”. Cũng có truyền thuyết cho rằng vị tiền hiền khai khẩn vùng đất này vốn là một người con gái. Sau khi mất, để nhớ ơn, người dân đã xây lăng để thờ cô gái và gọi là Lăng Cô. Thời Pháp thuộc, vùng đất phía Bắc đèo Hải Vân được gọi là L’An Cu. Tên Lăng Cô cũng có thể là do đọc trại của cụm từ này.

Từ trên đỉnh đèo nhìn xuống, Lăng Cô như một tấm lụa trắng mềm mại bao quanh khung cảnh thiên nhiên xanh mát, thuyền bè đậu san sát trông thật nên thơ. Lăng Cô còn có đặc sản là mắm sò huyết, mắm tôm và các đặc sản biển khác rất rẻ và ngon.
Dân cư tại Lăng Cô phần lớn là theo đạo Thiên Chúa Giáo, tại đây có một nhà thờ. Ở Lăng Cô còn có khách sạn, nhà hàng Lăng Cô chủ yếu là khách nước ngoài ở. Từ Đà Nẵng đến Huế ta phải vượt qua 3 đèo: Hải Vân (20km), Phú Gia (3km), Phước Tượng (4km). Qua khỏi Phước Tượng là đến khu vực Cầu Hai hay Đá Bạc. Bên phải ta thấy một biển nước mênh mông đó là phá Cầu Hai. Phá Cầu Hai nối liền với phá Tam Giang (nằm đoạn từ Huế đến QuảngTrị). Ta còn đi ngang qua di tích lịch sử - đường mòn Hồ Chí Minh, cầu Phú Bài.

Rừng Quốc Gia Bạch Mã

Rừng Quốc gia Bạch Mã nằm ở phía Nam tỉnh cách Huế 55km. Năm 1925 dưới thời Pháp thuộc một dự án thành lập vườn quốc gia Bạch Mã - Hải Vân rộng 50.000ha để bảo vệ loài gà lam màu trắng, một kỹ sư người pháp tên Gérard ngày 28/7/1932 đề xuất dự án khu nghỉ mát Bạch Mã đến năm 1935 thì hoàn tất. Bạch Mã là một vùng rừng núi có diện tích 15km2 cao 1444m so với mặt nước biển. Bạch Mã có khí hậu mát mẻ nhờ ảnh hưởng của nước biển và độ cao. Về mùa hè nhiệt độ cao nhất chỉ 19-20oC. Vườn quốc gia Bạch Mã là trung tâm của dãy rừng xanh tự nhiên còn lại duy nhất của Việt Nam kéo dài từ biên giới Lào đến biển Đông. Là phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc, vườn như một bức tranh hùng tráng được dệt nên bởi nhiều dãy núi cao chia cắt và thấp dần ra biển. Độ dốc bình quân của toàn khu vực là 25 độ, có nơi biến động từ 45-60oC. Mùa mưa bắt đầu từ thảng 9 và kết thúc vào tháng Giêng năm sau. Lượng mưa trung bình năm khá lớn 3500mm. Đặc biệt ở độ cao từ 900m đến 1450m lượng mưa trung bình hàng năm là 7977mm. Rừng quốc gia Bạch Mã hiện nay có khoảng 1286 loài thực vật và 723 loài động vật đặc biệt nhất là bộ gà. Tại rừng Quốc gia Bạch Mã hiện nay có khoảng 139 ngôi biệt thự xinh xắn được xây dựng theo lối kiến trúc đặc biệt như khách sạn Morin, các biệt thự của các viên chức cao cấp họ Thân, họ Hồ Đắc tạo cho Bạch Mã một bộ mặt rất mỹ lệ trên núi đồi phóng khoáng. Những thắng cảnh nổi tiếng của Bạch Mã có thác Đỗ Quyên, suối Hoàng Yến, Hải Vọng Đài, đường mòn Trĩ sao. Ngày 15/7/1991, được công nhận là vườn Quốc gia, Bạch Mã đang thay da đổi thịt chào đón du khách bốn phương. Hiện nay Việt Nam có 10 vườn Quốc gia: Ba Bể, Tam Đảo, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Bến En, Bạch Mã, Yokdon, Cát Tiên, Côn Đảo.

Sân Bay Phú Bài
Cách Huế 13km, mất khoảng 30 phút ô tô. Sân bay có từ thời Pháp, nó từng là nơi đóng quân của sư đoàn 3 Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ. Sư đoàn này có nhiệm vụ phụ trách vùng I chiến thuật của chính quyền cũ. Đã có khoảng 3000 quân Mỹ đóng tại đây trong thời gian đó. Hiện nay là sân bay dân dụng Phú Bài - Huế. Trước khi đến sân bay Phú Bài, phía bên phải, giữa đồng ruộng có nhiều đài thu sóng radio của Mỹ (Radio bunkers).

Như vậy, từ Đà Nẵng đến Huế chịu sự kiểm soát của Lữ Đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến. Từ Huế đến Quảng Trị chịu sự kiểm soát của Lữ Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến. Ngày nay, sân bay trở thành một trong những sân bay lớn của miền Trung. Nhân dịp lễ hội Festival Huế 2000 Vietnam Airline đã đầu tư 64 tỉ đồng nâng cấp sân bay Phú Bài, kéo dài đường băng lên 3400m có thể đón được các loại máy bay như: Boeing, Airbus… Mới đây chính phủ đã quyết định đầu tư khoảng 150 tỉ đồng nâng cấp sân bay Phú Bài thành cảng hàng không quốc tế Phú Bài - đây là một cơ hội rất lớn cho thành phố Huế - thành phố Festival phát triển.

Đôi nét về Thừa Thiên Huế
Tỉnh Thừa Thiên-Huế có diện tích tự nhiên là 5010km2 dân số đến ngày 1/4/1999 là 1.045.134 người. Trong đó 30% dân số là người dân tộc thiểu số như: Cơ Tu, Tà Ôi, Vân Kiều, Hia… Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, Nam giáp Quảng Nam, Đà Nẵng, Tây giáp Lào, Đông giáp Biển Đông. Tỉnh lị là thành phố Huế, các huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Hương Trà, Hương Thủy, A Lưới, Phú Lộc và Nam Đồng. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 25oC.
Ngành du lịch tỉnh chủ yếu tập trung vào thành phố Huế – nơi vốn một thời gian dài là kinh đô lịch sử của nước Việt Nam. Nơi đây có sông Hương núi Ngự thơ mộng, có các di tích lịch sử, có hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm. Mỗi công trình là một thành tựu tuyệt mỹ của kiến trúc cân đối, sự hài hòa rất tự nhiên đến nỗi đôi lúc người ta quên đi đó là những công trình của con người. Đỉnh cao của kiến trúc Huế là quần thể cung điện, nhà ở Đại Nội (gồm 140 công trình lớn nhỏ) và lăng của các vua Nguyễn (Hiện có 5 lăng lớn còn hoàn chỉnh, hoành tráng, mỹ lệ, mà đầy nét đặc thù). Trong một bài viết của 40 nhà Đông Phương học Quốc tế, quần thể lăng tẩm của các vua Nguyễn được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.
Huế còn là trung tâm Phật giáo của miền Trung, với trên 100 ngôi chùa cổ kính. Trong đó có các chùa nổi tiếng như: Từ Đàm, Linh Mụ, Báo Quốc, Trúc Lâm, Diệu Đế, Túy Vân,… riêng chùa Linh Mụ được xem là biểu tượng của thành phố Huế.
Bên cạnh đó, Huế còn là một thành phố dày đặc những di tích lịch sử văn hóa như khu nghĩa trang Ba Đồn với ngôi mộ khổng lồ chôn hơn 6000 hài cốt nhân dân Huế tử nạn trong ngày kinh đô thất thủ năm 1885. Khu vườn mộ cụ Phan Bội Châu, khu bia Tiến sĩ nhà Nguyễn ở Văn Thánh Miếu, Nhà bảo tàng cổ vật Huế, Quốc Tử Giám,… Đặc biệt là trường Quốc Học Huế thành lập năm 1896, là cái nôi sản sinh nhiều nhân tài cho đất nước như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ (các nhà khoa học)…
Phía Đông Huế, cách thành phố chừng 15km là biển. Bãi tắm Thuận An thu hút hàng vạn người trong những ngày hè. Phía Nam Huế từ cầu Hai đến đèo Hải Vân là tam giác Bạch Mã – Lăng Cô – Tư Hiền, một khu vực lý tưởng để phát triển công nghiệp du lịch biển với hai bãi tắm tuyệt vời là Cảnh Dương và Lăng Cô, cùng những thắng cảnh và di tích nổi tiếng như chùa cổ Túy Vân và di tích Chàm trên núi Linh Thái.
Về loại hình du lịch miền núi, tỉnh có Lâm viên Quốc gia Bạch Mã trên độ cao 1400m. Tại đây du khách có thể săn chim, thú, hưởng không khí mát mẻ trong lành của khí hậu ôn đới.
Phía Tây Huế, con đường 12 mở lên thung lũng A Sao và đường mòn Hồ Chí Minh. Phía Bắc Huế chỉ cách 60 km là địa bàn du lịch liên Quảng Trị, có La Vang thánh đường, Thành cổ Quảng Trị…
Thừa Thiên-Huế có các loại hình văn hóa nghệ thuật nổi tiếng như: ca Huế, tuồng Huế, Ca múa cung đình, hò giã gạo và các lễ hội truyền thống như: Lễ cầu ngư, Lễ hội làng rèn Hiền Lương, Lễ Ông Lễ Bà tại điện Hòn Chén…
Huế có một nền văn hóa ẩm thực truyền thống với các món ăn nổi tiếng và độc đáo mà chỉ Huế mới có. Đó là các món ăn cung đình.
Đến nay Huế đã tồn tại được trên 355 năm và được UNESCO xếp vào một trong 315 Di sản văn hóa của nhân loại cần được bảo vệ và tôn trọng. Đó cũng là một trong những tiềm năng du lịch lớn của Huế.

Đời Hồng Bàng (2879 – 258 TCN) đất Huế thuộc về bộ Việt Thường. Bộ này gồm dãy đất từ Phú Hải Lăng (Quảng Trị) đến Phủ Điện Bàn (Quảng Nam). Đời Thục Phán An Dương Vương (214 TCN), Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc cướp đất Lĩnh Nam, đặt ra 3 quận là Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quân. Năm thứ 3 TCN, vua Vũ Đế nhà Hán diệt xong nhà Triệu, chia đất Tượng Quân ra làm 3 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Nhật Nam có 5 huyện.
Cuối đời Hán, nhân lúc nhà Hán loạn lạc, dân huyện Tượng Lâm – quận Nhật Nam (Bộ lạc Dừa – Chămpa) vốn là nơi xa xôi nhất đã liên tục nổi lên và giành thắng lợi. Người lãnh đạo khởi nghĩa là Khu Liên lên làm vua gọi là Lâm Ấp. Đến năm 248, người Lâm Ấp đánh chiếm huyện Tây Quyền, phá thành cũ của nhà Hán và lập nên thành mới đặt tên là Khu Túc hay còn gọi là Thành Lồi. Thành Khu Túc được tổ chức chặt chẽ và mạnh mẽ, che chở cho kinh đô Trà Kiệu cách đó 140km về phía Nam. Đến thế kỷ VIII, đời Đường, Lâm Ấp đổi Quốc hiệu thành Chiêm Thành. Từ đó đất Huế thuộc Chiêm Thành cho đến đầu thế kỷ XIV.
Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chế Củ (Rudravarman III), vua Chiêm Thành đồng ý dâng 3 châu là: Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để được trở về nước. Những châu ấy nay thuộc địa hạt tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị.
Năm 1075, vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt vẽ hình thể núi sông và đổi châu Địa Lý thành châu Lâm Bình, châu Ma Linh thành châu Minh Linh, và Bố Chính thành Bố Chánh. 
Ngoài ra còn chiêu mộ dân cư đến khai khẩn đất đai và sinh sống. Đó là cuộc di dân đầu tiên của Việt Nam. Năm 1103, vua Chiêm Thành là Chế Ma Na đánh đòi lại 3 châu. Năm 1104, vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đánh giành lại 3 châu đó.
Năm 1306, vua Trần Anh Tông gả em gái của mình là Huyền Trân Công Chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân đổi lấy hai châu Ô và Lý. Sau đó năm 1307, hai châu này được đổi tên thành Thuận châu và Hóa châu. Thuận châu gồm các huyện Đăng Xương (tức Thuận Xương – thuộc phủ Triệu Phong – Quảng Trị), Hải Lăng (Quảng Trị) và các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà (Thừa Thiên). Châu Hoá gồm các huyện Phú Vang, Phú Lộc (Thừa Thiên) và các huyện Diên Phước, Hòa Vang (Quảng Nam – Đà Nẵng).
Cuối đời Trần, nhà Minh cai trị nước ta và đặt ra phủ Thuận Hóa gồm cả hai châu.
Tháng 10/1558, Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa. Từ sông Gianh trở vào gọi là Đàng Trong. Các Chúa Nguyễn lần lượt đóng phủ ở Ái Tử (1558 – 1570), Trà Bát (1570 – 1600), Đinh Cát (1600 – 1626), Phước Yên (1626 – 1636), Kim Long (1636 – 1687). Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn dời phủ về Phú Xuân- khu vực thành nội Huế ngày nay.
Phú Xuân là tên cũ của thành phố Huế. Đến cuối thế kỷ XIX, sau khi thực dân Pháp đánh chiếm thành Phú Xuân năm 1885, địa danh Huế dần dần thay thế Phú Xuân. Chữ Huế tức chữ Hóa đọc trại mà ra.
Năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu lại dời phủ ra làng Bác Vọng (huyện Quảng Điền). Năm 1738, Nguyễn Phúc Khoát nối ngôi, dời phủ về Phú Xuân, bên hữu phủ cũ. Vào thế kỷ XVII – XVIII vùng Thuận Hóa và Đàng Trong đã trở thành khu vực phát triển của cả nước ta. Năm 1776, vùng Thuận Hóa đã có dân số lên đến 126.857 người và khai thác được 256.507 mẫu ruộng. Vào thế kỷ XVIII, Phú Xuân đã trở nên một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của Đàng Trong. Xứ Thuận Hóa với thủ phủ Phú Xuân là nơi tập trung nhiều làng và phường thủ công có tiếng về dệt, gốm, nấu đường, rèn sắt, đúc đồng… Phú Xuân còn là một thương cảng lớn cho ghe thuyền trao đổi buôn bán. Đặc biệt, có các thuyền từ Gia Định đem gạo ra bán.
Mùa xuân năm 1771, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ. Tháng 6/1786, Nguyễn Huệ tiến quân ra Thuận Hóa, nhanh chóng hạ Phú Xuân trong vòng 10 ngày, chiếm toàn bộ Đàng Trong. Tháng 12/1787, tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trên núi Bân - cạnh núi Ngự Bình, lấy niên hiệu là Quang Trung. Ngay sau đó dẫn quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh và lật đổ vua bù nhìn Lê Chiêu Thống, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn. Nguyễn Huệ là người có tư tưởng đổi mới. Ông mất tháng 9/1792, thọ 39 tuổi. Sau khi Quang Trung chết thì Tây Sơn suy yếu. 
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, lập nên triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, chia đất nước thành 29 tỉnh. Tại Phú Xuân nhà Nguyễn cho xây dựng cung điện, lăng tẩm, dinh thự. Việc xây kinh thành phải huy động một lực lượng lên đến 5000 - 8000 người. Giữa lúc đang xây dựng kinh đô, một cuộc khởi nghĩa do Đoàn Tung khởi xướng vào năm 1866 mà nhân dân gọi là khởi nghĩa “Chày Vôi” kéo về kinh đô nhằm lật đổ Tự Đức.
Năm 1885, kinh đô Huế rơi vào tay Pháp. Phong trào Cần Vương kéo dài 15 năm. Vào đầu thế kỷ thứ XX, Huế là nơi diễn ra nhiều hoạt động yêu nước. Cuối năm 1925, Pháp bắt cụ Phan Bội Châu về giam lỏng ở Huế. Từ năm 1930, Huế trở thành địa bàn hoạt động của nhiều lãnh tụ Đảng Cộng Sản Việt Nam như Lê Duẩn, Trần Phú, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Thanh…
Tháng 8/1945, hàng vạn người họp mitting trước Ngọ Môn, cờ Quẻ bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên, Bảo Đại đọc lời thoái vị và trao Ấn Kiếm cho chính quyền cách mạng. Trong buổi lễ lịch sử này, Ông nói “Thà làm dân một nước độc lập, còn hơn làm vua một nước nô lệ”. Năm 1963, pbong trào đấu tranh của nhân dân các tầng lớp tôn giáo bùng nổ lên đỉnh điểm. Rồi cuộc tiến công tết Mậu Thân năm 1968, quân giải phóng giành làm chủ Huế trong 25 ngày đêm, giải thoát cho 2000 đồng bào chiến sĩ yêu nước bị giam giữ.
Đúng 10h30 ngày 25/3/1975, lá cờ cách mạng được kéo lên đỉnh cột cở trước Ngọ Môn, thành phố Huế hoàn toàn giải phóng.
Huế ngày nay là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên. “Thừa Thiên” nghĩa là thừa lệnh trời để trị nước. Năm 1822, mới có tên phủ Thừa Thiên, sau là tỉnh Thuận Thiên. Huế ngày nay còn bảo lưu một khối lượng lớn những di sản vật chất và tinh thần mang tính văn hóa nghệ thuật truyền thống Việt Nam.

Lịch sử Thành phố Huế
Thành phố Huế nằm trên đôi bờ dòng sông Hương, giữa miền Trung nước Việt, lưng dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra biển Đông cách xa chừng 12km. 
Huế nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa mưa nắng rõ rệt. Đầu triều Nguyễn, thành phố Huế ngày nay là đất kinh sư của triều đình. Đến thời Pháp thuộc, vào ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra dụ thành lập Thị xã Huế. Đến ngày 12/12/1929, Tòan quyền Đông Dương ra nghị định chuyển Thị xã Huế lên Thành phố Huế. Huế hiện nay là thành phố loại 2, thủ phủ của tỉnh Thừa Thiên - Huế với dân số 291.761 (1/4/1999) phân bố không đều trên diện tích 67,77km2 gồm 20 phường nội thành và 5 xã ngoại thành.
Phần thành phố bên bờ bắc sông Hương có Kinh thành Huế của nhà Nguyễn (1802-1945) xây dựng từ năm 1805, đến năm 1993 được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá nhân loại. Đối diện với Kinh thành về phía bờ Nam, cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX được xem là một khu Tây với các cơ quan hành chánh, khu buôn bán, trường học của chính quyền bảo hộ mà tiêu biểu là Toà Khâm Sứ (1876), hãng buôn và khách sạn Morin (1901), Trường Quốc Học (1896) và Trường nữ trung học Đồng Khánh (1917). Huế là một trong những trung tâm văn hóa du lịch của Việt Nam, ngoài các di tích của nhà Nguyễn, các Chùa phật, danh lam thắng cảnh, Huế còn là nơi hình thành tinh thần yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các vị lãnh đạo Cách mạng nổi tiếng thế kỉ 20 như Cựu Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhà thơ Tố Hữu. Tháng 4/2000, Huế được chọn làm Thành phố Festival của quốc gia và quốc tế.

Sông Hương
Sông Hương từ lâu đã trở thành biểu tượng của Huế. Trước kia nó có tên là Lô Dung. Sau đổi là Hương Giang. Trên thượng nguồn sông có thứ cỏ Thạch Xương Bồ, một vị thuốc có mùi hương. Thứ cỏ này đã tẩm hương vào nước, làm cho dòng sông thoang thoảng một mùi thơm nên mới mang tên là Hương Giang.

Sông bắt nguồn từ núi cao trên 1000m, giữa biên giới Việt Lào. Bắt đầu từ hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch đến Bằng Lãng thì hợp chung thành một dòng sông Hương trong xanh dịu dàng chảy qua thành phố. Trước khi đổ ra biển Đông, sông chia thành nhiều nhánh toả rộng khắp kinh kỳ, khó có dòng sông nào đẹp bằng. Người ta ví sông Hương như cô gái Huế. Lúc chảy dịu dàng, lúc hiền hòa, lúc lũ dữ dội như cô gái hay nhõng nhẽo, tính tình thay đổi thất thường, bí ẩn.
Sông Hương như một đường ranh giới tự nhiên giữa hai khu vực: Bờ Bắc là khu Hoàng Gia, cung điện. Bờ Nam là thành phố hiện đại với những con phố rộng rãi, công sở, khách sạn..
Sông Hương là nơi hò hẹn của các đôi nam nữ. Là bầu sửa ngọt ngào nuôi dưỡng nền âm nhạc và thi ca Huế. Chính dòng sông này là niềm cảm hứng cho các nhà văn, nhà thơ từ xưa đến nay.
Hương giang nhất tím nguyệt, Thiên cổ hữu đa sầu”.
(Hương giang một dòng sông, để lại mối sầu thiên cổ).
Với Cao Bá Quát thì: “Sông Hương như một thanh kiếm dựng ngang trời”.
Hoặc nhà thơ khác thì:
Nếu như không có dòng Hương
Câu thơ xứ Huế giữa đường đánh rơi
Nếu như không có dòng Hương
Người tình cho Huế, người thương nơi nào”
Hay nhà thơ Thu Bồn thì thâm thúy hơn:
“Con sông dùng dằng, con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Thế đấy, cái sâu lắng trữ tình của người dân xứ Huế cũng do sông Hương tạo nên. Người ta còn giải thích con gái Huế ăn rất cay nhưng nói chuyện rất ngọt ngào là do uống nước sông Hương. Ngày nay loại bia nổi tiếng ở Huế là Huda cũng lấy nước từ sông Hương để sản xuất.
Có thể nói rằng, chưa đến Huế nếu chưa thưởng thức đò hát Hương Giang, chưa ngồi thuyền rồng ngược dòng sông Hương ngắm cảnh sông nước thơ mộng và các di tích phía trung lưu, chưa thấm vào lòng điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác một khung trời xứ Huế.

Núi Ngự Bình
Núi nằm phía Đông Nam thành phố Huế, đối diện với Ngọ Môn và cách Ngọ Môn 3km, ở trên cùng một trụ, thẳng hàng. Ở vị trí đó, núi Ngự được xem là bình phong của Hoàng thành, làm tiền án cho kinh thành.
Núi cao 105m, có hình thang cân với hai cạnh đều đặn, đỉnh bằng. Tên gọi cũ là Bằng Sơn. Đến thời Gia Long gọi là Ngự Bình. Trên núi có rừng thông xanh tươi mát. Người ta không thể không nhắc đến Núi Ngự Bình khi nói đến Huế.
Núi Ngự bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong


Cầu Tràng Tiền
Là chiếc cầu sắt bắc qua sông Hương, nằm giữa lòng thành phố Huế. Cầu được bắt đầu xây dựng năm Thành Thái thứ 9 (1897) và hoàn thành năm Thành Thái thứ 11 (1899). Ban đầu nó chỉ là chiếc cầu gỗ, mặt cầu lát bằng ván gỗ lim. Đến năm Thành Thái thứ 16 (1904) cầu bị bão thổi. Năm 1904 người Pháp xây dựng lại cầu mới bằng sắt và xi măng.

Tên gọi của cầu cũng có nhiều thay đổi. Ban đầu có tên Thành Thái.sau Chiến tranh Thế giới I cầu mang tên thủ tướng Pháp Clemonccan. Năm 1945 chính phủ ngắn ngủi Trần Trọng Kim cầu được đổi thành cầu Nguyễn Hoàng. Nhưng dù cầu có thay đổi thế nào thì dân chúng vẫn gọi là cầu Tràng Tiền, vì cầu nằm cạnh sở đúc tiền cũ. Cầu gồm 6 vài mỗi vài dài 66,85m rộng 6,2m. Tổng cộng chiều dài của cầu là 401,1m. Cầu có 12 nhịp được thiết kế theo kiểu kiến trúc Gothique mỗi nhịp có thành hình bán nguyệt. Các nhịp thiết kế liền nhau làm thành một dãy sóng đều đặn, mềm mại như là nước sông Hương. Hiện nay có 3 cây cầu bắt ngang dòng sông Hương: Cầu Phú Xuân (cầu mới), Tràng Tiền, Bạch Hổ (cầu xe lửa) nếu như sông Hương là nơi hò hẹn của các đôi trai gái thì cầu Tràng Tiền là nơi nối nhịp cho lứa đôi. Người ta có câu hát như sau:
Cầu Tràng Tiền sáu vài 12 nhịp
Anh qua không kịp tội lắm anh ơi
Bỡi vì ai mà em phải mang tiếng chịu lời 
Có xa nhau đi chăng nữa, cũng bởi ông trời mà xa

Chợ Đông Ba 

Từ Nam ra Bắc hay từ Bắc vào Nam, du khách đều biết đến 3 tên chợ nổi tiếng: Đồng Xuân - Hà Nội, Bến Thành - Sài Gòn, Đông Ba - Huế. Chợ Đông Ba trước kia từ thời vua Gia Long đặt tại phường Đông Phước (trước ngày giải phóng năm 1975 gọi là phường Thái Trạch, nay được đổi tên thành phường Thuận Thành) chợ được xây dựng bằng gạch và lợp ngói, gọi là chợ Đông Phước hay Qui Dã Thị. Qua tên chợ, chính quyền nhà Nguyễn muốn biểu hiện rằng sau khi thắng Tây Sơn, dòng họ Nguyễn đã trở về đất cũ. Về sau chợ được dời ra cửa Đông Hoa nên được mang tên chợ Đông Hoa, đặt tại vườn hoa Phan Đăng Lưu bây giờ. Vì kiêng tên của bà Hồ Thị Hoa quê quán ở Thủ Đức là vợ của Vua Minh Mạng, Vua đã đổi tên chợ thành chợ Đông Ba (đọc trại từ Đông Hoa) ngày kinh đô thất thủ, chợ bị giặc Pháp đốt sạch mãi đến năm 1887 vua Đồng Khánh mới cho xây dựng lại gồm có “đình chợ” và “quán chợ’ lấy tên là Đông Ba.
Đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) chợ Đông Ba một lần nữa di chuyển ra ngoài, đặt tại phố Tràng Tiền nhưng vẫn giữ tên cũ là Chợ Đông Ba bây giờ. Sau khi dời đô ra phố Tràng Tiền chợ Đông Ba được xây dựng với qui mô lớn hơn, Chợ Đông Ba là công trình được xây dựng vào loại sớm cùng với Trường Quốc Học và Cầu Tràng Tiền dưới thời Vua Thành Thái. Nhân dân Huế còn nhớ Câu ca dao từ năm Thìn 
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Tràng Tiền đúc lại ximăng

Vào đầu thế kỷ thứ XX Chợ Đông Ba là một công trình kiến trúc kết hợp Đông - Tây tiêu biểu ở Huế. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trên một diện tích 16.000m2 với 300.018 mặt hàng nhưng chợ Đông Ba lúc bấy giờ đã đổ nát có đến 70% lều quán tạm bợ. Chính vì thế, đầu năm 1986 UBND tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) đã cải tạo và xây dựng chợ. Chợ có diện tích 14.000m2 gồm 2000 sạp. Lầu chuông đứng ở trung tâm chợ được cải tạo và xây dựng lại qui mô, bảo đảm độ bền, mĩ thuật hơn mang dáng dấp của Huế. Lầu chuông dài 66 m, rộng 36m với diện tích nền 2376m2 mang tính chất “đình chợ” truyền thống. Ngày 10/10/1987, chợ Đông Ba được khánh thành trong niềm vui khôn tả của người dân xứ Huế và nhân dân cả nước.

Trường Quốc Học Huế
Trường Quốc Học là một trong những trường trung học đầu tiên được thành lập ở Việt Nam dưới thời Vua Thành Thái vào năm 1896. Ban đầu trường chỉ có một tòa Đốc giáo đường và 3 tòa cho các viên trợ giáo cư trú. Đến năm thành Thái thứ 10 (1898) làm thêm hai dãy lớp học 46 phòng. Trường được xây dựng lại vào 1917. Dưới thời Pháp thuộc, Trường Quốc Học là trung tâm văn hoá ở Trung Kì. Học sinh từ Nghệ An đến Bình Định đều phải đến đây theo học bậc Trung Hoc. Trường Quốc Học là một trong những nơi lưu giữ lại nhiều những kỷ niệm của những bậc nhân tài của đất nước, một thời từng là học sinh của trường như: Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu…

Chùa Thiên Mụ
Từ cầu Phú Xuân chạy đến kinh thành Huế, ngang qua Ngọ Môn, thẳng đến một ngã ba, thẳng vào một con đường nhỏ thì đến chùa Thiên Mụ. Sau khi qua khỏi ngã ba, chúng ta đi thẳng đến làng Kim Long (Rồng Vàng). Từ trung tâm đến chùa Thiên Mụ, chúng ta có thể đi bằng thuyền. Làng Kim Long ngày xưa có tên là An Ninh Hạ, còn An Ninh Thượng là nơi có chùa Thiên Mụ. Làng Kim Long ngày xưa đã nổi tiếng có nhiều cô gái đẹp. Vua Thành Thái và Duy Tân lấy vợ cũng là người làng này. Hai vị vua này là người duy nhất cho phép vợ ăn chung mâm va xưng hô anh em. Dòng Hương buổi sáng sương mờ lan toả như làn khói mỏng, đó chính là thi hứng cho nhà thơ Hàn Mặc Tử sáng tác bài thơ nổi tiếng “Đây Thôn Vĩ Dạ”.

Huế là nơi có nhiều chùa chiền nhất Việt Nam. Huế có hơn 100 ngôi chùa lớn nhỏ và hơn 200 Niệm phật đường. Như vậy là gần 300 ngôi chùa cho 30 vạn dân Huế. Chùa Thiên Mụ, Diệu Đế, Báo Quốc, Giác Hoàng, Linh Hựu là năm ngôi chùa được xếp hàng Quốc tự. Chùa Thiên Mụ gắn liền với lịch sử Nam tiến của Đại Việt, nó là ngôi chùa đầu tiên ở đất thần kinh. Từ thế kỉ thứ XIV, Huế được mở mang. Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Nam trấn thủ từ Đèo Ngang trở vào. Chúa Nguyễn Hoàng nghĩ rằng phải có một chất keo để kết dính con người ở vùng đất mới được khai hoang và biết rằng chỉ có tôn giáo mới làm được điều đó. Ngày xưa người ta lấy Nho Giáo để trị nước, Phật Giáo để an dân, Lão Giáo để giải thích vũ trụ. Trong khi đi khảo sát, Nguyễn Hoàng đi từ dưới lên thấy ngọn đồi Hà Khê đột khởi lên giữa sông Hương rất đẹp, giống như dáng một con rồng đang quay đầu nhìn lại, chứa chan niềm hy vọng. Chúa dừng lại và nghe người dân kể lại rằng: “Đêm đêm người ta thường thấy có một người đàn bà xuất hiện trên đồi. Bà mặc quần lục áo đỏ. Bà nói rằng rồi đây sẽ có một vĩ chân chúa đến đây lập chùa để tu long khí cho bền long mạch”. Nguyễn Hoàng nghe xong rất mừng rỡ nên đổi đồi Hà Khê thành Thiên Mụ Sơn - nghĩa là núi của người đàn bà linh thiêng. Sau đó ông cho xây chùa đặt là Thiên Mụ. Sau khi chùa hoàn tất, Chúa Nguyễn Phúc Khoát cho người sang Trung Quốc mời hoà thượng Thích Đại Sáng về giảng kinh Phật và mang nhiều kinh Phật về đây. Từ đó Phật giáo miền Trung bắt đầu phát triển mạnh. Đến thời Chúa Nguyễn Phúc Lan - cháu nội Nguyễn Hoàng - chọn làng Kim Long xây dựng thủ phủ của mình năm 1635. Năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Trăn chọn Phú Xuân làm thủ phủ, bởi đất Phú Xuân hội đủ các yếu tố: “Nhất cận thị, nhị cận sơn, tam cận lộ”.
Thời gian phát triển cực thịnh của Chùa Thiên Mụ là thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Vào năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc lại Đại Hồng Chung nặng 2,5 tấn. Chuông này được đánh giá là chuông nặng thứ hai Việt Nam sau chuông ở chùa Cổ Lệ - Nam Định nặng 9 tấn. Người ta nói ngày xưa khi đánh chuông, tiếng vang đến tận biển Thuận An cách đó 12 dặm. Vì dân chúng đã đóng góp nhiều vàng bạc nên tiếng chuông vang rất xa!
Năm 1844, Thiệu Trị cho xây dựng tháp cao 21m, 7 tầng, mỗi tầng thờ một tượng Phật (số 7 là số linh thiêng của nhà Phật). Tầng trên cùng có tượng Phật bằng vàng. Năm 1942 tượng phật bằng vàng này mất đi cùng với hai chữ Ngọ Môn ở Huế. Ngày nay người ta không được vào tháp nữa vì tháp có dấu hiệu xuống cấp.
Bia bên trái ghi lại lịch sử xây dựng tháp của vua Thiệu Trị. Chùa Thiên Mụ được xếp vào hàng thứ 12 trong số 20 cảnh đẹp của đất thần kinh. Trước mặt chùa là Sông Hương, xa xa là núi Kim Phụng và lăng Minh Mạng làm tiền án cho chùa. Bên phải là dãy Trường Sơn, nhìn xa hơn nữa là đồng bằng phía Nam của Huế. Năm 1714, nhà bia đối diện chuông được xây dựng, nói lên quá trình đúc chuông. Bia rùa khắc bài bia ký của Chúa Nguyễn Phúc Chu.
Cuối thế kỷ thứ XVIII chùa bị chiến tranh tàn phá. Năm 1815 và 1831 vua Gia Long và Minh Mạng đã cho trùng tu chùa đẹp hơn. Năm 1904 có trận bão lớn làm chùa bị đổ nát. Năm 1907, Vua Thành Thái cho trùng tu nhưng kiến trúc nhỏ hơn.
Đình Hương Nguyện: Bước lên 15 bậc tam cấp từ cổng tam quan là đến đình Hương Nguyện, mà ngày nay chỉ còn lại cái nền ở trước tháp Phước Duyên. Đây là công trình kiến trúc bằng gỗ của vua Thiệu Trị (1841-1847). Sau đó đã bị bão đánh đổ. Đây là một ngôi nhà tứ giác độc đáo của 150 năm trước. Đứng ở giửa nhà nhìn lên ta sẽ thấy hình bát quái được cấu trúc khéo léo ở giữa mái có một số bài thơ chữ Hán được chạm nổi.
Qua khỏi sân trước là cổng tam quan chùa, bên trên có đề “Thiên Mụ Tự” có 3 cửa ra vào, cả 3 cửa này đều có Hộ Pháp trấn giữ. Ngay sau cổng tam quan là lầu chuông và lầu trống đối xứng nhau. Kế đó đối xứng hai bên tả hữu Thập Nhị Dược Xoa Đại Tướng ngồi trên các con thú.
Điện Đại Hùng: Tiếp tục đi vào trong ta đến điện Đại Hùng. Đây là nơi chính điện trong chùa. Kiến trúc là kiểu trùng thiềm điệp ốc. Điện được phục chế năm 1959. Các cột, kèo, lăng, bệ đều được xây bằng bê tông và phủ lên ngoài một lớp sơn giả gỗ. Trong điện thờ Phật Di Lạc, Phật có tai to để nghe những chuyện khó nghe trong thiên hạ, bụng to để bao dung những chuyện khó dung trong thiên hạ, miệng rộng để cười những chuyện khó cười trong thiên hạ.
Ở bức hoành trên có 4 chữ “Linh Thử Cao Phong”. Người ta so sánh nơi chùa toạ lạc giống như đồi Linh Thửu ở Ấn Độ, nơi Phật đắc đạo.
Qua khỏi nơi thờ tượng phật Di Lạc, ở bên trong người ta thờ Tam Thế Phật chính giữa, hai bên là Văn Thù và Phổ Hiền.
Ở cửa có bảng công nhận Di tích văn hoá tháng 10/1993. Chùa đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới cùng với Kinh Thành Huế.
Đi theo lối bên hông điện ra phía vườn sau là nhà trưng bày những hình ảnh và chiếc xe của Hoà thượng Thích Quảng Đức, người đã tự thiêu để chống chế độ đàn áp Phật Giáo.
Sau nửa là mộ của Hoà Thượng Thích Đôn Hậu, trụ trì tại đây. Ông nguyên là phó chủ tịch hội đồng Phật Giáo yêu nước trong thời kỳ chống Mỹ, người có công trong công cuộc Chấn hưng Phật giáo ở Huế cũng như ở Việt Nam. Năm 1959, tại chùa Từ Đàm đã diễn ra Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam. Năm 1963, tại Sài Gòn đã nổ ra phong trào chống chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Ngôi tháp này được xây dựng năm 1987. Năm 1992 thì ông mất.
Phía sau tường rào là một con rạch nhỏ. Chuyện kể ngày xưa Cao Biền (đời Đường - Trung Quốc) đã từng đến đây khảo sát và cho rằng đây là nơi đầu rồng linh thiêng nên đã cho đào con rạch này để cắt đứt long mạch, làm mất thiêng vùng đất này. Chúa Nguyễn lo sợ nên cho xây một con rùa nơi đây để yểm lại.

Năm 1635, Chúa Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long làm thủ phủ, nhưng chỉ kéo dài hơn 50 năm. Năm 1687, dời về Huế. Năm 1788, thời Quang Trung là mốc thứ hai. Mốc thứ ba là thời Gia Long. Nếu Phong Châu là kinh đô phong kiến đầu tiên của Việt Nam thời kỳ vua Hùng thì Huế là nơi chứng kiến triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam từ 1802-1945 (13 đời vua). Kinh Thành Huế được xây dựng từ năm 1804 - 1832. Tại sao Gia Long không chọn Thăng Long hay Gia Định mà chọn Huế làm kinh đô của cả nước đầu thế kỉ thứ XIX? Các lí do sau:
-Nếu chọn Thăng Long ngoài Bắc thì e rằng dân chúng còn có ý tưởng phò Lê. Ngoài Bắc có nhiều kẻ sỹ tôn thờ nhà Lê, mặc dù thời kỳ Lê Trung Hưng đã suy tàn.
-Nếu chọn Gia Định thì từ đấy ra Huế rất xa. Và điều kiện giao thông rất hạn chế.
-Huế nằm giữa hai ngọn đèo: đèo Ngang phía Bắc và đèo Hải Vân nằm phía nam. Đây là địa thế lý tưởng về mặt phòng thủ.
-Chọn Huế, Gia Long có sức mạnh yểm trợ từ phía Đồng Nai. Đó không những là sức mạnh về kinh tế mà còn là sức mạnh gắn bó huyết thống. Bởi vì đa số những người vào mở mang vùng đất Đồng Nai đều xuất phát từ Phú Xuân và Quảng Bình.
-Huế từng là nơi đóng đô của các chúa Nguyễn, nên Gia Long xem Huế như quê cha đất tổ.
Gia Long đã cùng các quan đại thần khảo sát địa thế và thiết kế Kinh Thành. Dựa vào nguyên tắc địa lí như Phong thủy của Đông phương và Thuyết âm dương ngũ hành của dịch học, các nhà kiến trúc đầu thế kỉ XIX đã cho hệ thống thành quách và cung điện quay mặt về hướng Nam. Họ dùng núi Ngự Bình cao 104m (cách bờ nam sông Hương 3km) làm tiền án và hai hòn đảo nhỏ mang tên Cồn Hến và Dã Viên trên sông Hương là “Tả Thanh Long” và “Hữu Bạch Hổ” chầu vào trước mặt Kinh Thành. Kinh đô Huế gồm có 3 toà thành:
-Vòng thành thứ nhất: gọi là Kinh Thành hay Phòng Thành dùng để bảo vệ, che chở những cơ quan cũng như những sinh hoạt của guồng máy chính quyền trung ương.
-Vòng thành thứ hai: Hoàng Thành, nằm trong Kinh Thành, dùng để bảo vệ các cơ quan, sinh hoạt lễ nghi, cùng các hoạt động chính trị quan trọng của triều đình, trong còn có các miếu thờ các vua, chúa Nhà Nguyễn. 
-Vòng thành thứ ba: Tử Cấm Thành ngăn cách nơi ăn, chốn ở và sinh hoạt hằng ngày của gia đình nhà vua với thế giới bên ngoài. Hoàng Thành và Tử Cấm Thành còn gọi chung là Hoàng Cung hay Đại Nội. Hiện nay Tử Cấm Thành không còn gì cả.

Kinh Thành
Địa điểm của Kinh Thành Huế nguyên đã được các Chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong từ năm 1687-1775, rồi sau đó nhà Tây Sơn dùng làm kinh đô của cả nước từ năm 1788-1801. Sau khi Nguyễn Anh chiếm lại thành Phú Xuân và lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Gia Long, địa điểm lại được chọn để xây dựng kinh đô với quy mô lớn hơn. Từ năm 1803, chính vua Gia Long và các quan viên trong Giám Thành Vệ đã đi khảo sát địa thế, thiết kế mặt bằng, đưa kích thước và cách thức xây dựng. Họ đưa vào phương pháp kiến trúc thành luỹ của Vauban (một kỹ sư công binh người Pháp sống vào thế kỷ XVII) để thực hiện.
Việc thi công bắt đầu từ năm 1805, kéo dài đến năm 1832 mới hoàn tất. Trong 27 năm ấy có năm làm có năm nghỉ. Và thường chỉ làm vào mùa nắng ráo trong năm.
Trong đợt thi công đầu tiên vào mùa hè năm 1805, khoảng 3 vạn dân và lính đã được huy động từ 8 tỉnh miền Trung vế Huế để ngăn sông đào hào và đắp lên một cái thành sơ khỡi bằng đất. Người ta ngăn chặn và đắp lấp một số đoạn của hai chi lưu bên tả ngạn Sông Hương là sông Kim Long và sông bạch Yến, đồng thời lợi dụng một số khúc sông còn lại để làm các hồ và hai con kênh: một ở trong thành là Ngự Hà,Và một ở ngoài thành là Hộ Thành Hà. Riêng Hộ Thành Hà dài 7 km, rộng trung bình 35m (được đào bằng tay).
Từ năm 1818-1822, Kinh Thành đã được ốp gạch lát. Trong hai năm 1831-1832, Minh Mạng cho xây thêm tường bắn chồng lên mặt ngoài của vòng thành. Sau đó kinh thành còn được tu bổ vào các năm 1838, 1842, 1848, 1884.
Kinh Thành Huế có hình gần như hình vuông, nếu tính cả thành phụ là Trấn Bình Đài nữa thì chu vi gần 11km. Tức 5,2km2, dày 21m. Diện tích mặt bằng thành nội đo được 520 ha, tức 5,2km2. Chưa kể vùng đất dùng để thiết lập hệ thống phòng ngự ở ngoại vi Kinh Thành.
Về nghệ thuật bố phòng quân sự, kinh thành Huế được xây dựng theo kiểu thành lũy của Vauban chung quanh xây 24 pháo đài và gác bảo, cùng một thành phụ là Trấn Bình Đài. Tất cả các bộ phận đó cùng với vành đai bảo vệ bên ngoài là Hộ Thành Hà, hào, thành giai (glacis), phòng lộ (berme)… tạo nên một Kinh Thành có 10 cửa để ra vào:
• Thường Đức (cửa Đông - Nam)
• Thể Nhơn (cửa ngăn, dành cho vua)
• Quảng Đức (cửa sập, dành cho Hoàng Hậu, cung tần mỹ nữ đi ra ngoài)
• Nhà Đổ (cửa chánh Nam, dùng cho các quan võ đi)
• Đông Ba (cửa chánh Đông)
• Kẻ trai (cửa Đông-Bắc)
• Hữu (cửa Tây - Nam)
• Cửa chánh Tây
• Hậu (cửa chánh Bắc)
• An Hoà (cửa Tây-Bắc)
Mặt trước kinh thành có 4 cửa, các mặt còn lại mỗi mặt hai cửa, mỗi cửa có hai vọng lầu cao 5m. Ngoài ra, còn có hai cửa phụ ở Đông và Tây thành, gọi là thủy quan.
Một số bộ phận liên quan đến kinh thành là:
• Trấn Bình Đài (1805)
• Kỳ Đài (1807)
• Quan Tượng Đài (1836)
• Lục Bộ (1827)
• Quốc Sử Quán (1821)
• Lầu Tàng Thơ (1825)
• Tôn Nhơn Phủ (1832)
• Cơ Mật Viện, tức Tam Tòa (1899)
• Phú Văn Lâu (1819)
• Nghênh Lương Đình, Thượng Bạc Viện (1875)…
Trước bến Văn Lâu
Ai ngồi, ai câu
Ai sầu, ai thảm
Ai thương, ai cảm
Ai nhớ, ai trông?
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non

Cột Cờ Huế
Được xây dựng năm 1807 dưới thời vua Gia Long, Kỳ Đài cao 17m, có ba tầng thể hiện cho tam tài (Thiên, Địa, Nhân), càng lên cao diện tích càng hẹp. Tầng một có diện tích 9 x 12m. Trên đài có 8 nhà nhỏ để 8 khẩu đại bác và hai điểm cánh ở hai hông tầng ba. Thoạt đầu cột cờ được làm bằng gỗ cao 27m. Sau những lần sửa chữa, đến 1948 cột cờ được xây bằng xi măng, cốt sắt cao 37 m, 4 tầng. Như vậy nếu tính luôn cả Kỳ Đài thì cột cờ cao 54m.
Dưới thời phong kiến, trong những ngày đại lễ, đỉnh cột cờ có treo một lá cờ rất lớn dài 4m rộng 6m, ở giữa thêu một con rồng. Chung quanh cờ viền hình răng cưa.

Quốc Tử Giám
Là trường đại học duy nhất lúc bấy giờ. Để đào tạo nhân tài, lần đầu tiên Quốc Tử Giám được thành lập chính thức vào năm 1076 tại Thăng Long dưới thời Lý. Đến đầu triều Nguyễn thì Quốc Tử Giám được thành lập tại Huế.
Khoa thi đầu tiên được tổ chức năm 1822 và khoa thi cuối cùng được tổ chức tại Quốc Tử Giám vào năm 1919 dưới thời Khải Định. Văn Miếu Quốc Tử Giám lúc đầu được xây dựng tại làng An Ninh. Năm 1908, Quốc Tử Giám được dời vào Thành Nội.
Trong suốt thời Gia Long trị vì (1802- 1810), triều đình nhà Nguyễn chỉ mở những khoa thi Hương nên chưa dựng bia tiến sĩ. Thời Minh Mạng (1820-1840) trở đi mới mở các khoa thi Hội nên mới xây bia tiến sĩ.
Quốc Tử Giám chiếm một khu vực khá rộng, mỗi bề khoảng 200m. Giữa khu vực chính là Di Luân Đường, trên lầu có bức hoành với dòng chữ Minh Trung Các. Đó là bút tích của Thiệu Trị cùng với con dấu của ông. Ngoài ra còn một bức khác có nét chữ của nhà vua, một bài thơ ngắn trang trí quanh tường. Toà nhà này được xây dựng bằng gỗ theo kiểu “Trùng Thiềm Điệp Ốc”. Hầu hết các bộ phận trong nhà đều được chạm trổ tinh tế và được trang trí theo lối “nhất thi nhất họa”.
Khu vực phía sau là Tân Thơ Viện (thư viện trường). Hai bên mặt sau là Di Linh Đường- hai phòng học. Hai sân trước xây hai dãy cư xá cho sinh viên. Hai bên Tân Thơ Viện xây ngôi nhà ở cho quan Tế Tửu (hiệu trưởng) và quan Tư Nghiệp (hiệu phó). Trong khu vực này có mấy ngôi nhà khác nhau làm nơi cho các giáo quan (thầy dạy) và nhân viên. Hiện nay, hầu hết các công trình này vẫn còn. Tấm bia trước trường ngày nay chúng ta còn thấy là bài thơ của Thiệu Trị và 14 bài thơ khác của vua Tự Đức.

Bảo Tàng Cổ Vật - Điện Long An
Bảo tàng có diện tích 6330m2, bao gồm toà nhà chính ở giữa và một số nhà kho, nhà ở cho nhân viên. Toà nhà chính từng là điện Long An trong cung Bảo Định, được xây dựng năm 1845 thời Thiệu Trị. Nơi đây là chốn vui chơi giải trí cho vua Thiệu Trị khi đi làm lễ Định Điền hàng năm. Năm 1847,vua Thiệu Trị qua đời, nơi đây dùng để thờ vua. Năm 1885, quân Pháp đóng ở đây nên vua Thành Thái cho dời việc thờ cúng về điện Phụng Tiên. Năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ của người Pháp được thành lập. Nên năm 1923,bảo tàng Khải Định được thành lập và tồn tại cho đến đời Bảo Đại. Năm 1947, bảo tàng Khải Định được đổi thành Bảo Tàng Cổ Viện. Đến năm 1958, bảo tàng Cổ Viện được đổi thành Bảo Tàng Huế. Sau 30/4/1975, có thể gọi là Nhà Trưng Bày Cổ Vật hay Bảo Tàng Huế. Hiện nay gọi là Bảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế.
Đây là một công trình kiến trúc bằng gỗ quí với nghệ thuật cung điện độc đáo. Toà nhà được làm theo kiểu “Trùng thiềm điệp ốc”. Có tất cả 128 cột và cách trang trí nội ngoại thất cực kỳ phong phú. Trên tường gỗ của toà nhà trang trí trên 1000 bài thơ văn bằng chữ Hán và hàng trăm hình ảnh cổ vật theo môtíp cổ điển với những đường nét chạm trổ tinh tế và khảm nổi bằng những vật liệu quý giá như xương, xà cừ, đồi mồi. Đặc biệt nhất có hai bài thơ của Vua Thiệu Trị, mỗi bài 56 chữ theo kiểu “Hồi văn kiếm liên hoàn” sắp xếp theo hình Bát quái, có thể đọc thành 64 bài thơ thất ngon và ngũ ngôn khác nhau. Trước đây có hơn 10.000 hiện vật được trưng bày nhưng đã bị thất lạc, mất mát nhiều.
Toà nhà này là toà nhà kép gồm bộ mái của nhà trước và sau liên kết nhau chặt chẽ. Cách này còn gọi là chính doanh - tiền doanh, tiền điện - hậu điện. Nhà trước có 7 gian với 8 bộ, hai bên có hai chái đơn, nhà sau chỉ có 5 gian với 6 bộ, hai bên là hai chái kép.
Hai không gian của nhà trước và nhà sau nối liền nhau bằng một không gian thứ 3 tạo nên bỡi một hệ thống vì kèo đặc biệt là trần vỏ cua nằm giữa hàng cột cuối nhà trước và đầu nhà sau. Bên trên trần uốn cong mềm mại và hệ thống vì kèo xinh xắn là một hàng máng xối bằng đồng khá lớn hứng nước mưa từ hai mái nhà chảy xuống để dẫn ra hai đầu máng xối, thoát ra ngoài bằng hai đầu rồng há miệng. 
Chung quanh toà nhà là cửa bảng khoa lồng kính thu ánh sáng tự nhiên. Điện có nền cao để tránh lụt, mái làm thấp để tránh gió bão. Các nhà kiến trúc xưa đã khéo léo tạo ra ảo giác chiều cao: Cắt phần mái che bao xung quanh ra làm 3 tầng, mà tầng giữa là hàng cổ diêm để trang trí. Chuốt nhỏ các cột hiên đứng xuống mặt sân chứ không tựa lên nền. Trang trí hình lưỡng long tranh châu và hình hồi long ở hai đầu trong tư thế muốn bay bổng lên không trung. Mái ở đây phẳng không cong lên như đình chùa Miền Bắc. Từ đó đến bờ Quyết Điện người ta trang trí hình tứ linh. Trên sân dưới mái hiên trước toà nhà có trưng bày khoảng 20 hiện vật bằng đá và kim loại gồm bia đá, súng thần công, tượng quan, vạc đồng, Chuông đồng nội thất có chừng 30 hiện vật được trưng bày thành 6 khu:
-Các tủ kính ở tiền doanh chứa các hiện vật bằng vàng bạc, ngọc, ngà, pháp lam, sành sứ, hai bên dựng các bức trấn phong làm bằng mây dưới thời Tự Đức đan nổi những danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở miền Bắc và miền Trung.
-Chính doanh gian giữa trưng bày những hiện vật ngày xưa trang hoàng ở thành Nội: Quả cầu bằng gỗ chạm lộng sơn son thiếp vàng - tượng trưng cho vương quyền, bức cảnh dựng hình tròn bằng đá quý thời Vua Minh Mạng cặp độc bình bằng gỗ khảm thời vua Tự Đức, phích nước của Hoàng Thái Hậu Từ Dũ, giày của Vua và Hoàng Hậu
-Gian thứ bên trái trưng bày các vũ khí bằng bạc, đồng, sắt. Tủ kính có sách bằng gấm, đồng, thời Gia Long có cả sách bằng vàng.
-Hai bên kế tiếp ở bên phải có đồ khảm chạm như bàn, ghế, sập gụ, tủ, trấn phong, các đầu hồ - một trò chơi của vua quan ngày trước.
-Gian thứ nhất bên trái, ở các phần giữa có các mảnh khí bằng đồng dùng trong sinh hoạt gia đình như bộ chông khánh thời Thiệu Trị, độc bình khảm tam khí, bộ lư tam sự, hoả lò, cặp chân đèn lồng rất lớn thời Khải Định, dụng cụ đong lúa gạo thời Minh Mạng
-Hai gian kế tiếp còn lại là đồ gỗ sơn son thiếp vàng như: ngài tế tử, án thơ, bàn ghế, kệ vua, long sàng, trấn phong, một bộ đồng khánh bằng đá để cử nhạc khi tế lễ ở Đàn Nam Giao.
Ngoài những hiện vật được trưng bày, bảo tàng còn có hàng ngàn đồ sứ bằng men lam. Đồ sứ men lam là đồ sứ làm bằng đất nung do triều đình Huế đặt làm ở các lò gốm bên Trung Quốc, sản xuất theo mẫu, kích cỡ sở thích của Vua và hoàng hậu, hoàng từ, quan lại Điều đáng chú ý là bảo tàng còn 80 hiện vật Chàm sưu tập được tại Quảng Trị, Thừa Thiên và mang ra từ Trà Kiệu sau những cuộc khảo cổ năm 1927.
Tóm lại các hiện vật trưng bày chủ yếu là: Bộ (chiên) biên chung dùng để tế giao (1846); hộc, đấu là những đơn vị đo lường lúa gạo; súng điểu thương (TK XVII-XIX); đồ tự khí bằng đồng; áo vua, án thư của vua Tự Đức; Long Sàng; sập gụ; đầu hồ; Bình phong; Quả cầu chạm cửu long, chậu sứ, bộ dụng cụ uống rượu hình lồng đèn; ấm chén bằng ngà voi của vua Đồng Khánh (1885-1889); gương soi bằng đồng; bàn ủi đồng; lò đồng; vá múc, bài thơ liên hoàn gồm 64 bài thơ, áo, ủng, hài của vua và hoàng hậu; bát bảo binh khí - biểu thị uy vệ của vua chúa, đồ pháp lam…

Giới Thiệu Trò Chơi Đầu Hồ
Là một trò chơi có nguồn gốc Trung Hoa. Bản thân tên gọi nó cũng đã thể hiện cái gốc phương Bắc của nó. “Đầu” trong tiếng hán có nghĩa là ném, “Hồ” là cái bình. Đầu Hồ là ném vật vào bình. Vật ném ở đây là những mũi tên làm bằng gỗ táo hay gỗ dầu, dài hơn thước ta (thước ta dài 40cm), có một đầu dẹp, đầu kia tròn và nhọn, có sức đàn hồi cao. Bình làm bằng gỗ, tựa như cái bầu rượu có eo, miệng lệch, trong đựng đậu xanh để khi ném tên sẽ cắm vào đầu, khỏi văng ra ngoài. Có một loại Hồ thứ hai, cao khoảng thước rưỡi, đáy tròn và thủng, miệng hồ loe, thẳng đứng, hai bên cổ bình người ta gắn thêm hai Hồ nhỏ hơn bình nậm rượu. Hồ được kê trên giá tròn bằng gỗ, bên trong có một cái trống nhỏ nằm cách đáy Hồ nữa gang tay. Một lát gỗ dày hình bầu dục có tính đàn hồi được gọi là con ngựa được đặt trên chiếu cách Hồ 5m khi mũi tên được ném đi sẽ bay gõ vào con ngựa, rồi nảy lên rơi vào miệng bình, lọt xuống đáy, gõ lên mặt trống phát ra những tiếng kêu “Binh, Binh”. Nếu được như vậy là tính một điểm.

(Nguồn sưu tầm)